Nhận định lần đầu về VPB (Nắm giữ) của HSC (16.8.2017)

0
32
Nhận định lần đầu về VPB (Nắm giữ) của HSC (16.8.2017)

Đánh giá lần đầu – VPB (Đánh giá lần đầu là NẮM GIỮ) sẽ niêm yết trên HSX vào ngày 17/8/2017 với giá tham chiếu là 39.000đ/cp, tương đương P/B dự phóng là 2,25 lần. HSC ước tính giá trị hợp lý ngắn hạn của cổ phiếu là 41.600đ (tương đương P/B dự phóng 2017 là 2,40 lần). Ước tính của chúng tôi dựa trên P/B bình quân của Ngân hàng mẹ (P/B dự phóng 1,54 lần) và FE Credit (PB dự phóng là 2,79 lần). Giá mục tiêu của chúng tôi cao hơn giá tham chiếu niêm yết 6,7%. Chúng tôi cho rằng với tiềm năng tăng trưởng mạnh và bản chất khác biệt trong mô hình kinh doanh của VPB, hoàn toàn hợp lý khi cổ phiếu có định giá cao hơn PB bình quân cổ phiếu các ngân hàng đã niêm yết, là 1,71 lần.

 Ở mức giá tham chiếu, VPB sẽ có tổng vốn hóa gần 2,3 tỷ USD (51,94 nghìn tỷ đồng) sau niêm yết. Tuy nhiên, room cho NĐTNN sẽ bị khóa ở mức 25% tổng cổ phiếu đang lưu hành so mức room hiện tại là 22,34%. Như vậy, room trống cho khối ngoại sẽ là 35,4 triệu cổ phiếu, tương đương khoảng 1.383 tỷ đồng tại giá tham chiếu. Trước đó, trong đợt phát hành riêng lẻ (có vẻ là cổ phiếu thứ cấp) vào ngày 7/7 để huy động tổng cộng hơn 6 nghìn tỷ đồng, số lượng đăng ký mua gấp 4 lần số lượng chào bán. Mặc dù trên thực tế khối ngoại đã duy trì mua vào mạnh cổ phiếu trên thị trường OTC nhiều tuần trước đợt phát hành.  Chúng tôi vẫn nhận thấy có nhu cầu dồn nén đối với cổ phiếu từ các tổ chức nước ngoài. Do đó, khả năng giá cổ phiếu có thể tăng mạnh trong những ngày đầu giao dịch sau niêm yết là rất lớn. Chúng tôi cũng dự báo room còn lại cho khối ngoái sẽ nhanh chóng đầy.

Chúng tôi dự báo LNTT hợp nhất 2017 của VPB sẽ là 6.752 tỷ đồng (tăng trưởng 37,0%) và nhìn chung hoàn thành kế hoạch cả năm của Ngân hàng, là 6.800 tỷ đồng nhờ tăng trưởng tốt của lợi nhuận chủ chốt từ Ngân hàng mẹ VPB (không bao gồm tất cả lợi nhuận chuyển từ FE Credit), đạt 3.189 tỷ đồng so với 2,474 tỷ đồng trong năm 2016 (tăng trưởng 28,90%). Và LNTT của FE Credit dự báo tăng trưởng 18,20% đạt 2.927 tỷ đồng.

KQKD hơp nhất 6 tháng đầu năm 2017 của VPB tốt mặc dù tăng trưởng của từng mảng kinh doanh không đồng nhất do Ngân hàng mẹ cho kết quả tốt hơn. Ngân hàng mẹ VPB báo đạt lợi  nhuận rất khả quản, tăng 198,55% so với cùng kỳ (không gồm lợi nhuận chuyển từ FE Credit từ KQKD năm 2016). Trong khi đó, KQKD của FE Credit thấp hơn dự báo do chi phí dự phòng cao.

Năm ngoái, VPB báo đạt LNTT 4.929 tỷ đồng (tăng trưởng 59,2%) và tốc độ tăng trưởng trung bình của LNTT trong 3 năm qua là 53,8%/ăm. Do đó, VPB hiện là ngân hàng sinh lời tốt nhất tại Việt Nam xét về ROE, đạt 27,75% trong năm 2016. Ngân hàng có mô hình kinh doanh khác biệt, cụ thể với hoạt động  ngân hàng truyền thống và công ty tài chính tiêu dùng, gọi là FE Credit. Cánh tay tài chính tiêu dùng, đã đóng góp 64,8% LNTT năm 2016 là động lực chính cho tăng trưởng chung. FE Credit với 100% sở hữu của ngân hàng mẹ sở hữu 36 nghìn tỷ đồng tổng dư nợ tính đến ngày 31/6/2017 và tốc độ tăng trưởng trung bình của cho vay trong 3 năm qua là 115%/năm. Công ty này tăng trưởng nhanh chóng nhờ tập trung vào cho vay tiền mặt, ước tính chiếm 80% tổng dư nợ. Tỷ lệ NIM của FE Credit là khoảng 27%. Và mặc dù mô hình kinh doanh có rủi ro cao, tỷ lệ kiểm soát vỡ nợ  ờ  mức  57% là còn khá thấp (vào cuối Q1/2017).

Theo đó, tăng trưởng cho vay trung bình chung đạt 40,2%/năm trong 3 năm qua và tỷ lệ NIM chung là 7,7% đồng thời ROE rất cao, là 27,75%. Tuy nhiên, vẫn có những rủi ro kèm theo. Các hệ số an toàn như tỷ lệ nợ cao và vẫn tăng, giá trị trái phiếu VAMC cao với mức dự phòng tích lũy  thấp, hệ số LLR thấp và một số nợ quá hạn. Phần lớn các rủi ro này là liên quan đến FE Credit. Chúng tôi nhận thấy khả năng lớn FE Credit sẽ niêm yết cổ phiếu của mình và VPB có thể sẽ tìm kiếm NĐT tiềm năng cho mua vào cổ phần thiểu số. Cả hai sự kiện này sẽ diễn ra trong 6-18 tháng tới.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) là một ngân hàng tư nhân được thành lập năm 1993 và chủ yếu tập trung vào cho vay các DNNVV trong phần lớn thời gian hoạt động. Tuy nhiên, đến năm 2010, lãnh đạo Ngân hàng đã thay đổi chiến lược từ mô hình cho vay doanh nghiệp điển hình của một NHTMCP sang tập trung vào tài chính tiêu dùng. Kể từ đó, bảng cân đối của Ngân hàng cũng phản ánh sự gia tăng của cho vay khách hàng các nhân và cho vay tiêu dùng cùng với hoạt động cho vay các DNNVV truyền thống. 

 Vào cuối năm 2016, VPB nằm trong top 7 ngân hàng xét về khối lượng tài sản, và top 10 ngân hàng về cho vay khách hàng, tiền gửi khách hàng và hệ thống chi nhánh trong số các NHTM. Công ty con FE Credit là công ty tài chính tiêu dùng lớn nhất tại Việt Nam với 51% thị phần nhờ sự tăng trưởng nổi bật của dư nợ với CAGR đạt 197% trong 2 năm qua.

VPB sẽ niêm yết cổ phiếu trên HSX vào ngày 17/8 – Cụ thể, Ngân hàng đã được chấp thuận cho niêm yết 1.332.689.035 cổ phiếu thường trên HSX vào ngày 17/8/2017.

Room cho NĐTNN gần như đã đầy thậm chí trước niêm yết – Theo tin tức truyền thông, VPB sẽ khóa room ở mức 25% mặc dù sở hữu nước ngoái tối đa cho phép thông thường đối với các ngân hàng là 30%. Việc khóa room này có thể là để chuẩn bị cho chuyển đổi khoản vay có thể chuyển đổi của IFC sang cổ phiếu VPB thường (giá trị khoản vay là 57 triệu USD, tương đương 1.300 tỷ đồng). VPB cho biết, room hiện tại là 22,34% với 78 NĐTNN. Do đó, sau niêm yết, room trống sẽ là 2,66%, tương đương 36,78 triệu cổ phiếu. Và nhiều khả năng room khối ngoại sẽ đầy trở lại sau một vài này.

Những đồn đoán về bản chất của đợt phát hành riêng lẻ gần đây – Ngân hàng gần đây đã hoàn tất một thương vụ phát hành riêng lẻ huy động 280 triệu USD vốn chủ sở hữu mới trong tháng 7 vừa qua. Xuất hiện một số đồn đoán trên thị trường rằng Ngân hàng đã huy động vốn thông qua một thương vụ đã được cơ cấu.

Chúng tôi định giá cổ phiếu VPB cao hơn một chút so với giá tham chiếu – Chúng tôi đưa ra đánh giá lần đầu với cổ phiếu VPB là Nắm giữ. Và ước tính giá trị hợp lý ngắn hạn của cổ phiếu là 41.600đ, tương đương P/B dự phóng 2017 là 2,40 lần. Ước tính của chúng tôi dựa trên;

  • P/B dự phóng bình quân của PB Ngân hàng mẹ VPB là 1,54 lần và PB dự phóng của FE Credit là 2,7 lần.
  • Giá mục tiêu của chúng tôi cao hơn giá tham chiếu niêm yết 6,7%.
  • Chúng tôi cho rằng với tiềm năng tăng trưởng mạnh và bản chất khác biệt trong mô hình kinh doanh của VPB, hoàn toàn hợp lý khi cổ phiếu có định giá cao hơn PE bình quân cổ phiếu các ngân hàng đã niêm yết, là 1,71 lần.

HSC dự báo LNTT hợp nhất 2017 của VPB sẽ là 6.752 tỷ đồng (tăng trưởng 37,0%) và nhìn chung hoàn thành kế hoạch cả năm của Ngân hàng, là 6.800 tỷ đồng nhờ tăng trưởng tốt của lợi nhuận chủ chốt từ Ngân hàng mẹ VPB (không bao gồm tất cả lợi nhuận chuyển từ FE Credit), đạt 3.189 tỷ đồng so với 2,474 tỷ đồng trong năm 2016 (tăng trưởng 28,90%). Và LNTT của FE Credit dự báo tăng trưởng 18,20% đạt 2.927 tỷ đồng.

Chúng tôi dự báo LNTT 2017 của Ngân hàng mẹ VPB đạt 4.874 tỷ đồng (tăng trưởng 43,25%). Và LNTT chủ chốt tăng trưởng 3.189 tỷ đồng (tăng trưởng 28,90%). Dự báo của chúng tôi dựa trên các giả định sau;

(1)  Chúng tôi dự báo tăng trưởng cho vay khách hàng là 20% đạt 135,08 nghìn tỷ đồng nhờ tăng trưởng cho vay rất tốt KQKD 6 tháng đầu (tăng 11,68% so với đầu năm).

(2)  Và chúng tôi cũng dự báo tăng trưởng tiền gửi khách hàng là 5% đạt 127,87 nghìn tỷ đồng, trong khi đó Ngân hàng cũng đẩy mạnh huy động các chứng chỉ tiền gửi trung hạn, tăng trưởng 45% đạt 41,82 nghìn tỷ đồng.

(3)  Do đó, hệ số LDR thuần vẫn ở mức cao, là 106%, tuy nhiên tỷ lệ cho vay/(tiền gửi khách hàng +chứng chỉ tiền gửi) chỉ là 80%.

(4)  Tỷ lệ NIM tăng lên 4,35% so với mức 3,92% trong năm 2016 và 4,32% vào cuối 6 tháng đầu năm 2017. Chúng tôi dự báo tỷ lệ NIM tăng là do Ngân hàng tập trung vào cho vay khách hàng (51% tổng dự nợ là cho vay khách hàng cá nhân). Và 25% các khoản vay của khách hàng cá nhân (gần 13% tổng dư nợ) là không có đảm bảo.

(5)  Do đó, thu nhập lãi thuần dự báo tăng trưởng 23,25% đạt 8.741 tỷ đồng.

(6)  Tổng thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 50,65% đạt 1.818 tỷ đồng. Trong đó, lãi thuần từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh/đầu tư tăng trưởng mạnh nhất 444,24% đạt 500 tỷ đồng. Và nếu chúng tôi cộng cả 1.685 tỷ đồng thu nhập từ góp vốn mua cổ phần chuyển từ FE Credit (năm 2016 ghi nhận 928 tỷ đồng), tổng thu nhập ngoài lãi sẽ tăng trưởng 64,06%.

(7)  Tổng chi phí hoạt động dự báo tăng 30,46% so với năm 2016 lên 4.775 tỷ đồng. Do đó, hệ số CIR sẽ là 39%.

(8)  Chi phí dự phòng tăng nhẹ 19,89% so với năm 2016 lên 2.595 tỷ đồng. Ngoài 1.051 tỷ đồng chi phí dự phòng trích lập trong 6 tháng đầu năm, chúng tôi dự báo VPB sẽ trích lập thêm 700 tỷ đồng trong 6 tháng cuối năm dự phòng cho trái phiếu VAMC, và 844 tỷ đồng dự phòng nợ xấu thống thường để giảm tỷ lệ nợ về thấp hơn 3%.

Do đó, chúng tôi dự báo LNTT là 4.874 tỷ đồng (tăng trưởng 43,25%) và LNST là 4.236 tỷ đồng (tăng trưởng 45,86%). Tuy nhiên, chúng tôi dự báo LNST chủ chốt sẽ tăng trưởng 29,11% đạt 2.551 tỷ đồng.

Chúng tôi cũng dự báo hệ số CAR sẽ tăng lên 15,9% với tác động của đợt phát hành riêng lẻ sau niêm yết. Cụ thể, Ngân hàng sẽ phát hành khoảng 12% vốn chủ sở hữu mới (sau đợt tăng vốn) cho một số NĐT tiềm năng với mức giá phát hành bằng giá niêm yết và nhận 1.620 tỷ đồng vốn mới và 4.708 tỷ đồng thặng dư vốn cổ phần mới. Theo đó, chúng tôi dự báo EPS của Ngân hàng sẽ là 2.790đ, và BVPS là 18.335đ/cp cho năm 2017.

Chúng tôi dự báo LNTT năm 2017 của FE Credit là 2.972 tỷ đồng (tăng trưởng 18,20%) dựa trên những giả định sau:

(1)  Chúng tôi dự báo cho vay khách hàng tăng trưởng 30% đạt 41,76 nghìn tỷ đồng.

(2)  Và dự báo tăng trưởng chứng chỉ tiền gửi và phát hành trái phiếu là 55% đạt 30,68 nghìn tỷ đồng.

(3)  Tuy nhiên, các nguồn huy động khác như tiền gửi từ các ngân hàng và tiền gửi từ doanh nghiệp tăng trưởng nhẹ 7,6% đạt 8,46 nghìn tỷ đồng.

(4)  Tỷ lệ NIM sẽ giảm còn 26,34% do áp lực cạnh tranh.

(5)  Tuy nhiên, thu nhập lãi thuần vẫn tăng trưởng 37,12% đạt 10.842 tỷ đồng.

(6)  Trong khi đó, tổng thu nhập ngoài lãi tăng trưởng mạnh 98,96% đạt 1.284 tỷ đồng nhờ lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng trưởng tốt và thu hồi nợ tăng. FE Credit khá quyết liệt trong xử lý nợ xấu và chúng tôi dự báo tỷ lệ thu hồi nợ xấu là 15-20% tổng nợ đã xử lý.

(7)  Tổng chi phí hoạt động dự báo tăng nhẹ 13,93% so với năm 2016 lên 3.334 tỷ đồng và hệ số CIR sẽ là 27,5%. FE Credit vẫn tập trung mạnh vào cho vay tiền mặt, do đó không yêu cầu nhiều tài sản cổ định đối với hệ thống chi nhánh và văn phòng giao dịch tại các nhà phân phối hàng tiêu dùng. Do đó, hệ số CIR của FE Credit sẽ vẫn ở mức thấp so với các đối thủ khác.

(8)  Tuy nhiên, HSC dự báo chi phí dự phòng của FE Credit sẽ tiếp tục tăng mạnh lên 5.864 tỷ đồng (tăng 86,27%).

Do đó, chúng tôi dự báo LNTT là 2.927 tỷ đồng (tăng trưởng 18,20%) và LNST dạt 2.342 tỷ đồng (tăng trưởng 18,22%). Với dự báo này, EPS của FE Credit sẽ là 7.072đ, và BVPS là 19.699đ/cp cho năm 2017.

Cho năm 2018, HSC dự báo LNTT hợp nhất đạt 8.047 tỷ đồng (tăng trưởng 19,2%) nhờ Ngân hàng mẹ VPB tăng trưởng LNTT 22,91% đạt 5.990 tỷ đồng và FE Credit tăng trưởng LNTT 19,06% đạt 3.485 tỷ đồng.

Tổng quan về hoạt động của Ngân hàng – VPB là ngân hàng có lợi nhuận tốt nhất tại Việt Nam với đóng góp 1/2 lợi nhuận là FE Credit – nhờ mô hình kinh doanh đổi mới được áp dụng từ năm 2012, VPB đã duy trì tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2012-2016. Cụ thể, trong giai đoạn này,

  • Tổng tài sản tăng trưởng trung bình 22%/năm nhờ cho vay khách hàng tăng trưởng bình quân 40,7%/năm và tiền gửi khách hàng tăng trưởng bình quân 20,1%/năm.
  • Tổng thu nhập hoạt động tăng trưởng bình quân 52,3%/năm và LNST tăng trưởng bình quân 57%/năm.
  • Tỷ lệ NIM năm 2016 là 7,7%.
  • ROE là 25,75% và ROA là 1,86%.
  • CAR là 13,2% theo quy định Basel 1.

FE Credit là quả trứng vàng với một số đặc điểm – FE Credit là doanh nghiệp gia nhận thị trường tài chính tiêu dùng sau, khi đó trên thị trường phân khúc cho vay hỗ trợ mua điện thoại và xe đạp đã khá cạnh tranh. Thay vì đó công ty quyết định tăng trưởng bằng cách;

  • Tập trung vào mảng kinh doanh mới, cung cấp các khoản vay tiền mặt khách hàng đại chúng.
  • Tìm kiếm khách hàng thông qua marketing số dựa trên mô hình dữ liệu lớn.
  • Tăng trưởng dư nợ nhanh chóng để trở thành công ty lớn nhất trên thị trường tài chính tiêu dùng.

Do đó, đến cuối năm 2016, FE Credit đã vượt cả Home Credit và HDSaison và với dư nợ tăng lên 32 nghìn tỷ đồng, gấp 3,2 lần Home Credit và 4 lần HDSaison. Chênh lệch ở đây phần lớn là do tỷ trọng cho vay tiền mặt trong tổng danh mục cho vay.

Đối với các sản phẩm khác thường được cả ba công ty tài chính tiêu dùng cung cấp như cho vay mua điện thoại, xe máy, vay mua nhà, chúng tôi nhận thấy không có nhiều khác biệt. Và mỗi công ty chiếm khoảng 30% thị phần cho mỗi sản phẩm trên.

4 công ty lớn kiểm soát thị trường tài chính tiêu dùng – đến cuối năm 2016, có 12 công ty tài chính tiêu dùng trên thị trường Việt Nam nhưng chỉ số ít là tích cực hoạt động. Do đó, 97% thị phần thuộc kiểm soát của top 4 công ty trong ngành. Bao gồm FE Credit (55% thị phần), Home Credit (17%), HDSaison (13) và Prudential Finance (12%).

Tuy nhiên, một số ngân hàng lớn với các công ty tài chính tiêu dùng như MBB, TCB, MBS và SHB có thể sẽ xâm nhập thị trường tích cực hơn trong vài năm tới. Và những ngân hàng có đủ năng lực và nguồn nhân lực sẽ nhanh chóng mở rộng mảng kinh doanh này. Do đó, chúng tôi dự báo FE Credet sẽ đối mặt với cạnh tranh lớn hơn từ các công ty tài chính tiêu dùng có ngân hàng hỗ trợ trong tương lai.

Nợ xấu nội bảng và ngoại bảng của VPB cao hơn bình quân.

Với mô hình hoạt động khá đặc biệt của mình (tham gia nhiều vào lĩnh vực tín dụng cá nhân đang tăng trưởng nhanh), thì có thể hiểu được khi tỷ lệ nợ xấu của VPB cao hơn của các ngân hàng bình thường khác. Và rủi ro cao cho đến nay đã được bù đắp nhờ lợi suất cao. Để có thể đánh giá chính xác hơn, chúng tôi đã xem xét riêng tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng mẹ VPB và của FE CREDIT.

Nợ xấu tại ngân hàng mẹ VPB cũng cao hơn bình quân chủ yếu do Ngân hàng chậm trích lập cho trái phiếu VAMC so với bình quân ngành – Cụ thể tại thời điểm cuối năm 2016:

  • Nợ xấu sau khi xóa nợ của tại ngân hàng mẹ VPB là 2.282 tỷ đồng (giảm 2,7%) và bằng 2,03% dư nợ cho vay.
  • Dự phòng chung và dự phòng cụ thể lần lượt là 800 tỷ đồng (tăng 19%) và 517 tỷ đồng (tăng 4%).
  • Ngân hàng cũng đã hoàn nhập dự phòng 70 tỷ đồng cho trái phiếu VAMC (năm 2015 trích lập 440 tỷ đồng). Theo đó dự phòng lũy kế trích lập cho trái phiếu VAMC là 496 tỷ đồng; chỉ bằng 12% tổng giá trị dư nợ gốc VAMC. VPB đã chậm hơn nhiều ngân hàng khác trong việc trích lập cho trái phiếu VAMC.
  • Tổng giá trị trái phiếu VAMC chưa được trích lập là 3.460 tỷ đồng; tương đương 3,2% tổng dư nợ và bằng 88% tổng giá trị cần phải trích lập.
  • VPB đã xóa 1.928 tỷ đồng nợ xấu trong năm 2016, tăng 68%.
  • Hệ số LLR là 57,7%; là mức thấp so với nhiều ngân hàng khác.

Theo đó, tổng nợ xấu cả nội bảng và ngoại bảng là 5.922 tỷ đồng, bằng 5,23% tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu tại ngân hàng mẹ tiếp tục tăng trong 6 tháng đầu năm 2017 – Nợ xấu tiếp tục tăng mặc dù công ty tăng cường trích lập dự phòng nhưng việc xóa nợ chậm lại. Theo đó tổng nợ xấu cả nội bảng và ngoại bảng là 6.889 tỷ đồng; bằng 5,23% tổng dư nợ.

Nợ nhóm 2 đang tăng với nợ xấu mới tăng nhanh – Nợ nhóm 2 tăng 73,5% so với đầu năm lên 7.380 tỷ đồng; bằng 5,87% tổng dư nợ tại thời điểm cuối tháng 6/2017 (tại thời điểm cuối năm 2016 là 3,78%). Theo đó đã có thêm 3.126 tỷ đồng nợ nhóm 2 phát sinh trong 6 tháng đầu năm 2017.

Nợ xấu của FE Credit ở mức cao nhát trong số các công ty tài chính tiêu dùng – do tỷ lệ cho vay tiền mặt cao dành cho khách hàng mới, nên FE Credit thường có tỷ lệ nợ xấu cao nếu tính cả nợ xấu đã xóa. Tại thời điểm cuối năm 2016, FE Credit công bố tỷ lệ nợ xấu là khoảng 6% và nợ xấu được xóa là 9,19%; theo đó hệ số LLR ở mức khá thấp là 40%.

Các chỉ số tài chính đã được cải thiện hơn một chút trong 6 tháng đầu năm 2017 nhưng dự phòng vẫn tăng – con số tuyệt đối vẫn tăng.

KQKD hợp nhất của VPB 6 tháng đầu năm 2017 nói chung tăng trưởng mạnh nhưng ngân hàng mẹ đóng góp khả quan hơn so với FE CREDIT vào thành quả này.

  • Lợi nhuận của ngân hàng mẹ rất khả quan, tăng 198,55% so với cùng kỳ (không tính lợi nhuận từ FE Credit trong năm 2016 chuyển sang).
  • Trong khi đó lợi nhuận của FE Credit kém hơn kỳ vọng do chi phí trích lập dự phòng cao.

Chúng tôi đã xem xét riêng ngân hàng mẹ VPB và FE Credit như sau:

KQKD của ngân hàng mẹ 6 tháng đầu năm 2017 có sự cải thiện mạnh – LNST tăng gần 5 lần và đạt 3.244 tỷ đồng. Tuy nhiên nếu không tính lợi nhuận từ FE Credit chuyển sang ngân hàng mẹ thông qua một phương pháp kế toán chỉ có tính danh nghĩa (1.685 tỷ đồng), LNST chỉ tăng gấp đôi lên 1.559 tỷ đồng.

Chúng tôi sẽ loại bỏ 1.685 tỷ đồng lợi nhuận trên ra khỏi phân tích KQKD ngân hàng mẹ trong 6 tháng đầu năm 2017; vì trên thực không hề có dòng tiền thật chuyển từ FE Credit sang ngân hàng mẹ dưới hình thức trả cổ tức tiền mặt. Do vậy điều này không ảnh hưởng đến việc tính thuế thu nhập doanh nghiệp ở từng pháp nhân. Những điểm ghi nhận chính là như sau:

  • Lợi nhuận tăng nhờ cho vay khách hàng tăng 11,68% so với đầu năm còn huy động khách hàng tăng 8,1%.
  • Tỷ lệ NIM tăng 0,34% lên 4,32% và tổng thu nhập ngoài lãi tăng 64,1% so với cùng kỳ lên 1.235 tỷ đồng.
  • Theo đó tổng thu nhập hoạt động tăng 35,29% so với cùng kỳ.
  • Tuy nhiên chi phí hoạt động tăng 58,31% so với cùng kỳ lên 2.409 tỷ đồng và chi phí dự phòng giảm mạnh 42,35% so với cùng kỳ xuống chỉ còn 1.051 tỷ đồng.
  • Theo đó LNST đạt 1.559 tỷ đồng (tăng 191,79% so với cùng kỳ).

Cho vay khách hàng tăng 11,7% so với đầu năm lên 125,71 nghìn tỷ đồng – cho vay kỳ hạn ngắn tăng mạnh 19,7% so với đầu năm lên 35,76 nghìn tỷ đồng trong khi cho vay trung dài hạn tăng 8,78% lên 89,95 nghìn tỷ đồng.

  • Cho vay kỳ hạn ngắn chỉ chiếm 28% tổng dư nợ cho vay
  • Còn lại 72% là cho vay trung dài hạn.

Tỷ lệ cho vay trung dài hạn của VPB là rất cao so với các ngân hàng niêm yết (chỉ thấp hơn VIB (28% và TCB (25%). Trong khi đó chi có 10,5% tổng huy động khách hàng có kỳ hạn trung hạn. Theo đó sự chênh lệch kỳ hạn giữa cho vay và huy động là khá lớn. Ngân hàng đã phải tìm cách hạn chế rủi ro thanh khoảng bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn dài. Có 45% chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu phát hành có kỳ hạn trung dài hạn.

Ngân hàng tập trung cho vay khu vực tư nhân và cho vay cá nhân – cho vay các đối tượng này lần lượt chiếm 44% và 51% tổng dư nợ cho vay. Chỉ có 3% dư nợ là cho vay DNNN và 1% là cho vay doanh nghiệp FDI. VPB dành hơn 90% dư nợ để cho vay khu vực tư nhân và cho vay cá nhân trong nhiều năm qua.

Huy động khách hàng tăng 2,17% so với đầu năm – đạt 124,53 nghìn tỷ đồng. Về kỳ hạn:

  • Tiền gửi không kỳ hạn giảm 15,71% so với đầu năm xuống còn 13,4 nghìn tỷ đồng.
  • Tiền gửi có kỳ hạn tăng nhẹ 4,76% lên 111,03 nghìn tỷ đồng.

Huy động từ giấy tờ có giá phải được tính khi xem xét hệ số LDR – do quy mô của nguồn huy động này (bằng 18,18% tổng tài sản và 30,86% vốn huy động khách hàng; là 38,4 nghìn tỷ đồng). Như đã đề cập, do tỷ trọng cho vay trung dài hạn lớn, nên VBP phải phát hành chứng chỉ tiền gửi trung dài hạn để cân bằng lại. Theo đó mặc dù có hệ số LDR thuần rất cao là 101%; thì hệ số LDR điều chỉnh chỉ là 77%. Tuy nhiên sự mất cân đối kỳ hạn giữa cho vay và huy động vẫn sẽ là một vấn đề đáng quan ngại.

Tỷ lệ NIM tăng 0,34% lên 4,32%.

Tổng lợi suất gộp tăng 1%. Lợi suất gộp cho vay khách hàng tăng 0,59% lên 11,28%; đây là mức cao nếu so với các ngân hàng khác nhờ tỷ lệ cho vay cá nhân; cho vay trung dài hạn lớn. Lợi suất trái phiếu tăng 0,53% lên 7,47%; có lẽ cũng là mức cao nhất trong ngành.

Tổng chi phí huy động tăng 0,58% lên 5,6%. Trong đó, chi phí huy động từ tiền gửi khách hàng tăng 0,37% lên 5,08%; vay liên ngân hàng giảm nhẹ 0,12% xuống còn 4,36% còn giấy tờ có giá giảm 0,37% xuống còn 8,12%. Cơ cấu huy động thay đổi theo hướng tăng nguồn huy động kỳ hạn trung và dài.

Thu nhập lãi thuần tăng 31,06% so với cùng kỳ lên 4.173 tỷ đồng – nhờ tổng tài sản sinh lãi tăng 20,8% so với cùng kỳ lên 193,36 nghìn tỷ đồng; tỷ trọng cho vay khách hàng với lợi suất cao tăng và tỷ lệ NIM tăng 0,34% lên 4,32%.

Tổng thu nhập ngoài lãi tăng khá mạnh 64,1% so với cùng kỳ và đạt 1.235 tỷ đồng – Tỷ trọng tổng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập hoạt động tăng từ 19,13% trong 6 tháng đầu năm 2016 lên 22,85%.

Hệ số CIR giảm dần trong 2 năm qua – từ gần 58% vào năm 2014 xuống còn 48% trong năm 2015 và xuống chỉ còn 39,67% trong năm 2016. Tuy nhiên hệ số CIR thấp không phải do công tác kiểm soát chi phí được thực hiện hiệu quả mà chủ yếu do thu nhập của Ngân hàng cao hơn mức bình quân ngành.

Tuy nhiên chúng tôi cũng thấy tỷ lệ tài sản/chi nhánh bình quân của VPB nằm ở mức giữa so với các ngân hàng trong ngành trong khi tỷ lệ số nhân viên/chi nhánh của Ngân hàng ở mức cao nhất ngành. Do vậy chúng tôi cảm thấy chi phí hoạt động của VPB ở mức cao; và có liên hệ mật thiết với việc tỷ lệ NIM cao.

Chi phí dự phòng giảm mặc dù nợ xấu tăng và hệ số LLR thấp – Tổng chi phí dự phòng trích lập trong 6 tháng đầu năm 2017 giảm 42,35% so với cùng kỳ xuống còn 1.051 tỷ đồng.

  • VPB chỉ trích lập 915 tỷ đồng dự phòng chung và dự phòng cụ thể (giảm 50% so với cùng kỳ)
  • Chỉ trích lập 137 tỷ đồng cho trái phiếu VAMC (hoàn nhập 15 tỷ đồng dự phòng trong 6 tháng đầu năm ngoái).

VPB có 4.193 tỷ đồng trái phiếu VAMC theo mệnh giá tại thời điểm cuối năm 2016 (bằng 3,34% tổng dư nợ) và dự phòng lũy lế là 633 tỷ đồng (bằng 15% giá trị theo mệnh giá của trái phiếu VAMC). Theo đó giá trị thuần của trái phiếu VAMC chưa được trích lập dự phòng là 3.560 tỷ đồng (bằng 2,83% tổng dư nợ). Theo đó, ngân hàng sẽ phải trích lập 838 tỷ đồng dự phòng cho trái phiếu VAMC mỗi năm (với tỷ lệ 20% trên số trái phiếu VAMC theo mệnh giá là 4.193 tỷ đồng). Theo đó, chi phí dự phòng có thể sẽ tăng trong 6 tháng cuối năm.

Tỷ lệ nợ xấu sau khi xóa nợ là 2,65% – năm 2016 là 2,03%. Theo đó đã có 1.047 tỷ đồng nợ xấu phát sinh mới trong 6 tháng đầu năm 2017. Nợ tất cả các nhóm tăng ở mức vừa phải.

Tổng nợ nhóm 2-5 bằng 8,52% tổng dư nợ; là mức rất cao nếu so với các ngân hàng trong ngành.

Hệ số CAR là 13,25% tại thời điểm cuối năm 2016 – là mức khá cao nếu so với các ngân hàng khác.

Tăng trưởng của FE Credit trong 6 tháng đầu năm 2017 chậm lại do mức độ chấp nhận rủi ro giảm đi.

Lưu ý – do thiếu BCTC được công bố chính thức của FE Credit, nên chúng tôi phải sử dụng mô hình của mình dựa trên BCTC hợp nhất và ngân hàng mẹ trong quá khứ để phân tích. Theo đó chúng tôi bỏ qua đóng góp từ VPB AMC – công ty con của VPB; và trên thực tế đóng góp này cũng không lớn.

Cả tài sản và lợi nhuận của FE Credit tăng trưởng chậm lại đáng kể trong Q2. Công ty đã công bố LNTT tăng 31,21% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2017 và đạt 1.356 tỷ đồng. Tuy nhiên 83,3% lợi nhuận 6 tháng là từ Q1. Tỷ lệ NIM vẫn ổn định ở 28%. Tuy nhiên cả chi phí hoạt động và chi phí dự phòng tăng 30% và 104,5%. Cụ thể chi phí dự phòng tăng gấp đôi so với cùng kỳ; nơ xấu được xóa cũng tăng. Theo đó tỷ lệ nợ xấu sau khi xóa nợ là 3,3%.

Cho vay khách hàng tăng 13,29% so với đầu năm và đạt 36.373 tỷ đồng – bằng 28,9% tổng cho vay ngân hàng mẹ và bằng 22,45% tổng cho vay hợp nhất. Cụ thể theo kỳ hạn:

  • Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 21,3% so với đầu năm và đạt 7.299 tỷ đồng (bằng 20% tổng dư nợ trong khi tại thời điểm cuối năm 2016 là 23%).
  • Cho vay trung hạn tăng 11,45% so với đầu năm và đạt 29.074 tỷ đồng; bằng 80% tổng dư nợ trong khi tại thời điểm cuối năm 2016 là 81,2%

FE Credit duy trì tỷ lệ cho vay trung dài hạn ở mức cao nhất nếu so với Home Credit & HDSaison. Và khách hàng vay tại FE Credit là cá nhân và chỉ vay bằng đồng VNĐ.

Tăng trưởng của FE Credit đã chậm lại sau 2 năm tăng trưởng ngoại mục – cho vay trong 6 tháng đầu năm tăng chậm lại nhiều, chỉ tăng 13,29% so với đầu năm từ 32.104 tỷ đồng.

Tuy nhiên do đặc điểm riêng của các công ty tài chính (tỷ lệ nợ xấu được xóa thường rất cao (8-10% tổng dư nợ), nên cần xem xét con số giải ngân mới thực tế thay vì tăng trưởng cho vay thuần nhằm đánh giá xu hướng tín dụng thực sự. Và con số giải ngân mới thực tế trong 6 tháng đầu năm 2017 tăng 22,6%

Vốn huy động khách hàng không phải là nguồn huy động chính đối với các công ty tài chính tiêu dùng – FE Credit có 5.230 tỷ đồng tiền gửi khách hàng tại thời điểm cuối tháng 6/2017 (tăng 151,3% so với đầu năm, và chỉ bằng 14,4% tổng vốn huy động). Trên thực tế, tiền gửi khách hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu huy động của các công ty tài chính theo quy định của NHNN. Theo quy định, công ty tài chính không được phép nhận tiền gửi của cá nhân, mà chỉ được phép nhận tiền gửi của tổ chức (cả tổ chức tài chính và phi tài chính) hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu cho tổ chức hoặc vay tiền từ các ngân hàng và TCTD phi ngân hàng

Theo đó, nguồn huy động chủ yếu từ phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu – tổng cộng là 27.425 tỷ đồng (tăng 38,5% so với đầu năm và bằng 75,3% tổng nguồn vốn huy động). Người mua chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu do công ty phát hành có thể là các TCTD hoặc các tổ chức khác. Lãi suất coupon thường ở mức cao, khoảng 10-12% do mô hình hoạt động của công ty tài chính rủi ro cao

Tỷ lệ NIM là khoảng 28% – Tỷ lệ NIM cao là đặc trưng của các công ty tài chính tiêu dùng; cao hơn nhiều lợi suất gộp ch vay khách hàng. Theo đó chúng tôi ước tính lợi suất gộp phải vào khoảng 37% với chi phí huy động bình quân là khoảng 12%

Tổng thu nhập ngoài lãi tăng 225,86% so với cùng kỳ – và đạt 579 tỷ đồng. Cụ thể

  • Lãi thuần hoạt động dịch vụ là 290 tỷ đồng (tăng 162,26% so với cùng kỳ).
  • 319 tỷ đồng (tăng 215% so với cùng kỳ); chủ yếu là từ thu nhập từ thu hồi nợ ngoại bảng là 299,45 tỷ đồng; tăng 114% so với cùng kỳ

Chi phí hoạt động tăng nhưng hệ số CIR giảm tiếp – Chi phí hoạt động trong 6 tháng đầu năm tăng 30,06% so với cùng kỳ lên 1.600 tỷ đồng

  • Tuy nhiên hệ số CIR tiếp tục giảm xuống chỉ còn 27,1% so với mức 33,2% trong 6 tháng đầu năm 2016.
  • Do thu nhập lãi thuần và tổng thu nhập hoạt động tăng lần lượt 50,8% và 59,2% so với cùng kỳ

Chi phí hoạt động chính của một công ty tài chính là lương nhân viên và cơ sở hạ tầng CNTT. Mạng lưới kinh doanh của công ty tài chính không đòi hỏi nhiều chi phí cố định nêu so với các ngân hàng. Trong khi đó lượng nhân viên không phải nhân viên kinh doanh (chẳng hạn như khối trung gian hỗ trợ) thấp nhờ hoạt độn theo mô hình dữ liệu lớn và quản trị tập trung

Tuy nhiên chi phí dự phòng tăng gấp đôi lên 2.947 tỷ đồng (tăng 104,05% so với cùng kỳ) – Chi phí dự phòng của FE Credit tăng trong 6 tháng đầu năm 2017 lên 2.947 tỷ đồng. Do chủ yếu các khoản cho vay của công ty tài chính tiêu dùng là vay tín chấp nên chi phí dự phòng được tính dựa trên giá trị sổ sách của nợ xấu mà không xem xét định giá tài sản đảm bảo. Theo đó dựa trên dư nợ nhóm 2, chúng tôi cho rằng chi phí dự phòng 6 tháng cuối năm cũng sẽ ở mức cao như 6 tháng đầu năm

Tỷ lệ nợ xấu sau khi xóa nợ là 3,38% – so với mức 6% tại thời điểm cuối năm 20146. Tuy nhiên FE Credit đã xóa 2.984 tỷ đồng nợ xấu (tăng 114% so với cùng kỳ) sau khi trích lập toàn bộ; tương đương 8,2% tổng dư nợ. Theo đó tỷ lệ nợ xấu trước trích lập dự phòng là khoảng 11,5% (tại thời điểm cuối năm 2016 là 15,18%). Nếu tính toàn bộ nợ nhóm 2 vào tỷ lệ trên, thì tỷ lệ nợ xấu lên đến 23,27% tại thời điểm cuối tháng 6/2017 (cuối năm 2016 là 26,72%). Cho thấy tổng nợ xấu cao nhưng ổn định.

Nguồn: HSC

ĐỂ LẠI BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here